‘Độ che phủ rừng ở Việt Nam thấp hơn các nước xung quanh’

Độ che phủ rừng của Lào hiện là 58%, Campuchia 47%, trong khi Việt Nam gần 42%, theo Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường.

Sáng 6/11, trong phiên chất vấn các thành viên Chính phủ, đại biểu Nguyễn Văn Hiển, phản ánh, qua Google map ông thấy rõ diện tích rừng của Việt Nam thấp hơn các nước xung quanh. “Phải chăng chúng ta bảo vệ rừng không tốt, năng lực quản lý hay nguyên nhân gì khác?”, ông Hiển băn khoăn.

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường trả lời, việc theo dõi trên bản đồ Google của đại biểu “là hoàn toàn chính xác”. Độ che phủ rừng của Lào hiện là 58%, Campuchia 47%, trong khi Việt Nam gần 42%.

“Hai nước Lào, Campuchia đều có dân số ít, diện tích tự nhiên bình quân cao và rừng tự nhiên nhiều. Còn ở Việt Nam, hiện diện tích rừng tự nhiên 10,3 triệu ha, trong đó 1,3 triệu ha phục hồi trong 30 năm qua”, ông Cường nói và cho hay độ che phủ rừng ở Việt Nam thấp hơn hai nước bởi nguyên nhân lịch sử. Bên cạnh đó, đương nhiên có trách nhiệm về công tác quản lý.

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường. Ảnh: Trung tâm báo chí Quốc hội © Được VnExpress cung cấp Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường. Ảnh: Trung tâm báo chí Quốc hội

Vì vậy, tới đây, lãnh đạo ngành nông nghiệp đề nghị tăng cường trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân để bảo vệ và phát triển rừng. Với rừng tự nhiên, ông đề xuất kiên quyết không cho can thiệp, hạn chế thấp nhất việc chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên.

Bằng cơ chế chính sách, nhà nước tiếp tục tăng cường quản lý, bảo vệ, phục hồi chất lượng rừng tự nhiên. Trên các khu vực trọng yếu như Lâm Đồng, Tây Bắc, ven biển có chương trình riêng để phục hồi rừng. Chính phủ cũng có giải pháp cho vấn đề 24.000 hộ di dân ở Lâm Đồng.

“Hiện diện tích rừng trồng của Việt Nam 4,3 triệu ha nhưng chủ yếu là keo, sinh khối nhanh nhưng độ bền vững, chống chịu thiên tai kém. Do vậy, phải thay dần bằng các cây bản địa để thay đổi cơ cấu, tăng giá trị, độ che phủ và chất lượng bền vững trước thiên tai”, ông Cường nói.

Đồng thời, nhà chức trách phải tăng cường quản lý từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là áp dụng chế tài mạnh trong xử lý hình sự vi phạm về rừng. “Năm 2019 đã xử lý 373 vụ, khởi tố 48 vụ. Nhưng cần kiên quyết xử lý hơn nữa, vì năm 2019 vẫn còn hơn 2.500 ha rừng bị xâm hại”, ông Cường nói.

Ngoài các vi phạm về phá rừng, đại biểu Nguyễn Văn Hiển cho rằng còn có nhiều vi phạm khác về môi trường đã được phát hiện, song đến nay chưa truy cứu trách nhiệm hình sự trường hợp nào, kể cả những vụ vi phạm nghiêm trọng?

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao Lê Minh Trí giải thích không phải vi phạm nào cũng bị xử lý hình sự. Việc xử lý phụ thuộc vào mức độ định lượng gây ô nhiễm môi trường; có những hành vi đã bị xử lý hành chính và tái phạm thì mới xử lý hình sự.

Ngoài ra, có trường hợp sai phạm cá nhân núp bóng pháp nhân. Chẳng hạn như giám đốc công ty chỉ đạo xả thải gây ô nhiễm, khởi tố điều tra rồi nhưng công ty này có xử lý tiếp không? Căn cứ truy tố còn là vấn đề.

“Cần có hướng dẫn của các cấp, từ nghị quyết đến thông tư liên tịch quy định rõ tình tiết cụ thể để cơ quan chức năng thực thi. Hiện nay cán bộ thực thi lúng túng. Sợ nếu làm tốt nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể sẽ oan”, ông Trí nói.

Viết Tuân – Hoàng Thùy – Minh Sơn