Tính thuế thu nhập cá nhân với trường hợp không ký hợp đồng lao động. Ảnh minh hoạ: Minh Phương © Lao Động Tính thuế thu nhập cá nhân với trường hợp không ký hợp đồng lao động. Ảnh minh hoạ: Minh Phương Người lao động không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng có thu nhập từ tiền lương, tiền công phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định dưới đây.

Theo đó, các tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân khi tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên.

Trong đó, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác trả cho cá nhân bao gồm:

– Tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa, tiền hoa hồng môi giới; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác.

– Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị doanh nghiệp, ban kiểm soát doanh nghiệp, ban quản lý dự án, hội đồng quản lý, các hiệp hội, hội nghề nghiệp và các tổ chức khác.

Như vậy, thuế thu nhập cá nhân trong trường hợp này sẽ được tính như sau:

Thuế thu nhập cá nhân bị khấu trừ = Thu nhập tính thuế TNCN x Thuế suất 10%

require([“inlineoutstreamAd”, “c.deferred”], function(outStreamVideoAd) {
outStreamVideoAd(“&AP=7466700&PG=LIFVNVI16&PVGUID=2d20ac7bb4814cf8981b4bd8ca0818e9&PROVIDERID=B6E46XTAL”, {“scrollInit”:true,”enableAdRefresh”:true,”adaptiveRefresh”:true,”adaptiveRefreshInterval”:1000,”prid”:”B6E46XTAL”,”adsVNextHeight”:”LB”,”adsVNextWidth”:”LB”,”rid”:”2d20ac7bb4814cf8981b4bd8ca0818e9″,”adtext”:”Ad”,”showmute”:true,”showvolume”:true,”nonviewablebehavior”:”pause”,”showprogressbar”:true,”allowfullscreen”:true,”videothreshold”:1,”videooffset”:5,”skiplocation”:”top-left”,”skiptext”:”Video can be skipped in %%TIME%% seconds”,”skipbuttontext”:”SKIP”,”autoinitialsize”:false,”disablecollapse”:false,”playOnMouseover”:false,”audioOnMouseover”:”false”,”playVideoVisibleThreshold”:50,”disableTopBar”:false,”preShowType”:”none”,”preShowUrl”:””,”postShowType”:””,”postShowUrl”:””,”postShowClickUrl”:””,”fallbackType”:””,”fallbackUrl”:””,”fallbackClickUrl”:””,”vpaidTimeout”:5000,”terminateUnresponsiveVPAIDCreative”:false,”enableInlineVideoForIos”:false,”delayExpandUntilVPAIDInit”:false,”delayExpandUntilVPAIDImpression”:false,”apnId”:280});
});

Lưu ý, trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỉ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

Đối với cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định.

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định như sau:

Thuế thu nhập cá nhân người nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam. © Được Lao Động cung cấp Thuế thu nhập cá nhân người nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam.

Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập chịu thuế TNCN x Thuế suất 20%

Trong đó, thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định như đối với thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú.

Việc xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công tại Việt Nam trong trường hợp cá nhân không cư trú làm việc đồng thời ở Việt Nam và nước ngoài nhưng không tách riêng được phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam thực hiện theo công thức sau:

Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam nêu trên là các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho người lao động.